Cặp loa bookshelf Endeavour áp dụng gần như mọi tiến bộ kỹ thuật từ Cardinal, vì thế những gì mà cặp loa này có thể thể hiện được hoàn toàn không đơn giản chút nào.
Thiết kế một cặp loa có thể phát ra được tiếng vốn không quá khó, nhưng để có một chất âm hay thì lại không đơn giản. Đó là nguyên nhân vì sao cùng một dòng loa, thiết kế các mẫu loa tương đối giống nhau. Trước hết, điều đó là để đảm bảo sự đồng nhất về chất âm, sau cùng là bởi thiết kế khác biệt đi hoàn toàn không dễ một chút nào. Có hai cách để áp dụng thiết kế từ một cặp loa đầu bảng cho những cặp loa khác cùng dòng: Hoặc sử dụng toàn bộ thiết kế và áp dụng với những kỹ thuật, vật liệu có chi phí thấp hơn; hoặc duy trì những tiêu chuẩn kỹ thuật, chỉ thu nhỏ về kích thước và đáp tuyến tần số. Khi cặp loa Cardinal của Wilson Benesch còn là cặp loa đầu bảng cách đây khoảng 5 năm, Square Five chính là cặp loa đi theo hướng thứ nhất, còn Endeavour đi theo hướng thứ hai.

Chỉ cần nhìn sơ qua Endeavour, ta có thể nói luôn đây chính là cặp loa “anh em” với Cardinal, cả về mặt ngoại hình lẫn chi tiết kỹ thuật, từ driver, chất lượng hoàn thiện bên ngoài cho đến nắp chống bụi của driver. Nhưng, nếu như Cardinal và Square Five giống nhau về lý thuyết thiết kế thì Endeavour không đơn giản chỉ là một phiên bản cắt giảm. Công nghệ và đặc điểm của thùng loa có thể giống nhau, nhưng thùng loa nhỏ hơn, số lượng drivẻ ít hơn sẽ đem đến những thử thách khác trong quá trình thiết kế và sản xuất.
Khi cặp loa Discovery thế hệ đầu tiên xuất hiện cách đây gần 20, thiết kế của nó đã trở thành kinh điển cho loa bookshelf của Wilson Benesch sau này: Cấu trúc 2.5 đường tiếng với driver midwoofer nằm ở phía trên, trong khi tweeter lại ở phía dưới. Bổ sung cho hai driver này là một cặp driver woofer với cấu hình isobaric, mặt hướng vào nhau, được đặt hướng sàn. Thiết kế này tuy phức tạp nhưng giải quyết một cách hiệu quả vấn đề mở rộng đáp tuyến tần số cho một thùng loa nhỏ, từ đó thành công cả về mặt kỹ thuật lẫn thương mại. Do đó không có gì ngạc nhiên khi 20 năm sau, những yếu tố cơ bản của Discovery vẫn được áp dụng lại cho Endeavour.
Ở cặp loa Endeavour, ta có thể thấy tweeter được sử dụng là Semisphere, giống như ở Cardinal. Tuy nhiên, driver Tactic II ở Endeavour được thiết kế dành riêng cho cặp loa này, vì thế nó chỉ có liên quan chứ không giống hoàn toàn những mẫu driver Tactic II dùng ở những cặp loa khác. Thùng loa vẫn là sự kết hợp giữa tấm mặt trước làm từ nhôm nguyên khối được cắt CNC một cách chính xác và các cạnh làm bằng sợi carbon công nghệ ACT cùng phần sống loa cũng làm bằng nhôm. Không gian bên trong loa được thiết kế thay đổi rõ rệt so với Discovery thế hệ đâu. Driver midwoofer giờ đây được thiết kế khoang loa riêng với hình dáng tối ưu hóa, trong khi ống bass phản xạ hướng sàn được làm bằng sợi carborn, có thể đóng kín lại bằng nắp Delrin đi kèm với loa trong trường hợp người dùng muốn có chút thay đổi nhẹ cho chất âm.

Nhìn chung, Endeavour sử dụng bốn dạng sợi carbon khác nhau, mỗi dạng phục vụ cho một mục đích nhất định. Tuy nhiên, nếu muốn so sánh giữa Discovery và Endeavour, hãy cùng nhìn vào các thông số kỹ thuật. Cặp loa Discovery cao 1.09m với thùng loa 15 lít, đáp tuyến tần số mở rộng xuống 45Hz +/- 2dB và nặng gần 26kg. Endeavour cao gần 1.5m, thùng loa 22 lít, đáp tuyến tần số 38Hz +/- 2dB và nặng tới 70kg tính cả chân loa. Như vậy, cặp loa mới to hơn khoảng 50%, nặng gấp 3 lần, đáp tuyến tần số sâu hơn, độ nhạy cao hơn và công nghệ tiên tiến hơn tới 3 – 4 thế hệ. Và tất nhiên, cặp loa Endeavour cũng đắt hơn Discovery thế hệ đầu khá nhiều.
Khi quan sát Endeavour kỹ hơn, ta sẽ nhận ra rằng cặp loa này thực chất lớn hơn so với vẻ bề ngoài. Có thể thấy khác biệt giữa cảm nhận về ngoại hình ban đầu và thể tích bên trong thùng loa khá lớn, và sự khác biệt đó có liên quan phần nào đến vách loa. Với những thùng loa thông thường với ngoại hình vuông vức, chúng thường được làm với phần vách dày 30mm và mặt trước dày hơn gấp đôi. Để sở hữu thể tích bên trong 22 lít và mặt trước rộng 245mm giống như Endeavour, loa bình thường phải sâu khoảng 40cm và cao khoảng 48cm. Những con số này thực ra không khác biệt lắm so với Endeavour, chỉ khác ở chỗ khi tạo hình cho loa vuốt thon về đằng sau vì tác động âm học, những con số kích thước này tăng lên một cách đáng kể. Chỉ cần làm đỉnh loa hình tam giác giống đế của chân kê theo hướng hất lên, thùng loa đã cao được thêm tới 15cm. Như vậy, với mỗi chỉnh sửa được thực hiện để tăng độ dốc mặt trước hay tạo các cạnh không song song, khung giằng gia cố và vách chia khoang trong thùng sẽ chiếm mất một phần thể tích bên trong, khiến cặp loa trông có vẻ lớn hơn. Thế nhưng, với một cặp loa có khả năng tự gia cố, không cần dùng đến khung giằng, ta có thể làm cho thể tích thực lớn hơn trong khi nhìn bên ngoài, nó vẫn tương đối nhỏ nhắn, cân đối. Làm thế nào để Endeavour trông nhỏ nhắn bên ngoài nhưng lại khá lớn bên trong. Điều này có được chủ yếu nhờ các vách cạnh, tấm mặt trước mang độ dày tối thiểu, các chi tiết hỗ trợ chỉ chiếm một phần thể tích rất nhỏ. Nhưng ngoài ra, nó trở thành hiện thực cũng là nhờ những đường cong phức tạp trên tùng loa vừa góp phần tạo sự cứng chắc, vừa làm nên những bề mặt không song song với nhau. Sư cứng chắc này còn được củng cố thêm bởi phần sống loa nhôm kéo dài từ chân đế cho tới tận đỉnh nóc.

Như vậy, có thể thấy độ cứng chắc và yếu tố thể tích là những điểm mấu chốt đằng sau thiết kế của Endeavour. Mục tiêu của Wilson Benesch không chỉ là làm ra một cặp loa nhỏ hơn, đẹp hơn hay dễ đặt trong phòng. Đó còn là đưa chất lượng, công nghệ, cấu trúc, vật liệu của cặp loa này vào một sản phẩm với mức giá thấp hơn. Nếu là những hãng loa khác, họ sẽ có lựa chọn rất đơn giản: Giá thấp hơn thì dùng ít linh kiện hơn. Thế nhưng, với Wilson Benesch, quan điểm của họ là thay vì làm một phiên bản cắt giảm của Cardinal, tại sao không tạo ra một cặp loa với những ưu điểm mà Cardinal không có? Nếu như thùng loa cần phải làm nhỏ hơn, nó có thể trở nên cứng cáp hơn và đáp ứng trong phòng nghe tốt hơn. Ít driver hơn đồng nghĩa với việc trong tâm âm học có thể tập trung hơn. Thùng loa nhỏ hơn cũng đồng nghĩa với việc chúng ta có thể loại bỏ những tác động không mong muốn của vách tường, trong khi chân kê được thiết kế tốt sẽ giúp tiếp xúc giữa loa và mặt đất được củng cố tốt hơn.
Hãy bắt đầu với driver của Endeavour. Ta thấy rằng tweeter màng vòm mềm Semisphere và driver Tactic II 17.78cm được áp dụng cho toàn bộ dòng Geometry. Ở thời buổi nhiều loại tweeter độc, lạ đang được áp dụng cho phân khúc high-end, việc sử dụng tweeter màng vòm mềm đường kính 2.5cm có vẻ không độc đáo cho lắm. Tuy nhiên, khi nói tới audio, quan trọng không phải chúng ta sử dụng gì mà là cách sử dụng như thế nào. Việc tự thiết kế và sản xuất tweeter cho phép Wilson Benesch điều chỉnh roll-off các dải thấp của tweeter để phù hợp với phân tần bậc một, không sử dụng dầu ferrofluid để có thể tạo ra một khoang sau đóng kín, được tối ưu hóa cẩn thận. Phạm vi tỏa âm (được hỗ trợ phần nào nhờ ống dẫn sóng) và độ mở rộng đáp tuyến tần số cũng cực kỳ vượt trội khi so sánh với một tweeter phổ thông: 30kHz +/- 2dB.

Mặc dù tất cả driver Tactic II đều có chung phần khung và cấu trúc motor, màng nón isotactic polypropylene dùng cho mỗi thiết kế khác nhau sẽ mang sợi dệt riêng để tối ưu hóa cho từng mục đích sử dụng. Driver midrange và woofer trên cặp loa Endeavour cũng không phải ngoại lệ. Midrange ở mặt trước hoàn toàn dựa vào roll-off tự nhiên để có thể hòa âm với các driver khác phụ trách các dải tần số kế cận. Trong khi đó, driver tweeter và woofer đều sử dụng chung phân tần bậc một có độ dốc khá nhẹ nhằm suy hao hiệu quả cho các âm thanh trên 500Hz và dưới 5kHz (phạm vi của midrange).
Thế nhưng cấu trúc phân tần (về mặt kỹ thuật là hai đường tiếng, lọc bậc một nhưng về mặt âm thanh lại là 2.5 đường tiếng) không phải là điều bất thường duy nhất về cách driver trong loa Endeavour hoạt động với nhau. Việc chia khoang riêng cho driver midrange không có gì lạ, nhưng cách thiết kế khoang midrange của Endeavour lại hoàn toàn khác biệt. Khoang loa này được làm bằng sợi carbon gia cố với resin kích thước siêu nhỏ, hay còn gọi là Carbon-Nanotech theo thuật ngữ của Wilson Benesch. Khoang được thiết kế hình quả chuông và thoát hơi về phía sau của loa. Ở Endeavour, khoang loa này có ba chức năng, hạn chế roll-off các dải thấp của driver, kiểm soát và xả năng lượng của sóng phát sinh đằng sau driver, cách li driver khỏi tác động từ các driver woofer (ngoài ra thiết kế khoang loa midrange như thế này cũng làm tăng thể tích của khoang woofer).
Mặc dù trên lý thuyết, cặp loa có độ nhạy 89dB (một con số ấn tượng khác, bên cạnh đáp tuyến 38Hz +/-2dB), khi nghe ở ngoài đời thực, người nghe dễ tin rằng còn số này thậm chí còn cao hơn. Trở kháng 6 Ohm nói lên rằng đây không phải là một cặp loa đòi hỏi công suất quá lớn. Tuy nhiên, cũng giống như các cặp loa khác trong dòng Geometry, không phải bất cứ ampli nào cũng có thể dùng để phối ghép với cặp loa Endeavour. Người dùng sẽ chỉ có hai lựa chọn: hoặc chấp nhận chất âm cực kỳ trung tính của cặp loa, hoặc tìm kiếm một hệ thống với chất âm mà mình yêu thích để phối ghép cùng.

Kết luận
Nếu như Cardinal có thể cạnh tranh với những cặp loa uy tín, đắt giá nhất nhờ vào chất âm, công nghệ và mức giá thành cực kỳ bất ngờ thì Endeavour lại phải đối mặt với một thị trường đầy tính thách thức hơn. Mức giá xấp xỉ 50 nghìn đô la khiến cặp loa này lọt vào quãng giữa của phân khúc cao cấp, nơi mà các hãng loa high-end tập trung rất mạnh do khách hàng thường quan tâm đến quãng này hơn. Những cặp loa như Wilson Alexandria XLF hay Focal Grande Utopia có thể rất hấp dẫn, nhưng để chọn mua thì phần lớn sẽ tìm đến sản phẩm thấp hơn một chút như Sasha hay Scala. Liệu Endeavour có thể cạnh tranh được với những đối thủ này? Điều đó chỉ có thể phụ thuộc vào khách hàng, nhưng nếu người nghe tinh tế một chút, họ sẽ nhận ra cặp loa của Wilson Benesch rất khác biệt. Endeavour, cũng giống như những cặp loa trong dòng Geometry, là minh chứng cho việc công nghệ cao cấp, tiên tiến khi được áp dụng sẽ đem đến những hiệu quả bất ngờ, thể hiện rõ nhất chính là ở chất âm nổi tiếng mà những cặp loa Wilson Benesch thường được biết đến.
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây
Sử dụng chân kê loa hay giá treo tường
Nguyễn Hào



