Chiếc ampli tích hợp Continuum S2 tập hợp đủ cả hai yếu tố mà audiophile truyền thống thường né tránh: ampli tích hợp và mạch khuếch đại class D. Thế nhưng, bất chấp điều đó, đây vẫn là một cỗ máy đầu nhạc tính, có thể thu phục rất nhiều đôi tai khó tính.
Continuum S2 – chiếc ampli tích hợp được Jeff Rowland Design Group giới thiệu vào năm 2015 đã cho thấy một hướng đi mới của họ trên con đường tái tạo âm thanh trung thực, đó là đưa khái niệm ampli tích hợp lên một giới hạn mới. Cỗ máy với công suất 400 watt/kênh, sử dụng mạch khuếch đại class D mang thiết kế cân bằng toàn phần phần nào hé lộ tầm nhìn cũng như hướng xử lý của các thương hiệu âm thanh đối với mảng tích hợp trong những năm gần đây. Tại một buổi đối thoại tại CES, đại diện của Jeff Rowland đã chỉ ra vài lý do khiến ampli tích hợp ngày nay lại trở nên phổ biến như vậy. Thứ nhất là sự đơn giản. Rất nhiều người sẵn sàng bỏ thời gian để tìm kiếm những hệ thống preamp/power-amp rời cũng như tìm kiếm dây kết nối phù hợp cho chúng, nhưng cũng có những người không sẵn thời gian như vậy. Bên cạnh đó, không gian sống ngày càng thu hẹp lại cũng là một lý do. So với một hệ thống rời, ampli tích hợp chất lượng cao vẫn cung cấp được bằng đấy chức năng, chất lượng không thua kém nhiều nhưng lại rất phù hợp với những không gian cỡ nhỏ.

Thiết kế của Continuum S2
Về mặt thiết kế bên ngoài, Continuum S2 là một cỗ máy thuần chất Rowland. Phần thân vỏ đồ sộ được gia công một cách chuẩn xác từ nhôm 6160-T6 vốn dùng để máy bay, nổi tiếng về độ cộng hưởng thấp và cấu trúc cực rắn chắc. Phần mặt trước của chiếc ampli tích hợp nổi bật lên với một loạt các nút bấm nhỏ và đèn chỉ báo, với các chức năng lựa chọn đầu vào, bypass mạch, đảo cực và tắt tiếng. Màn hình hiển thị khá lớn lớn, dễ đọc, cùng với núm xoay chỉnh âm lượng được đặt lệch về bên phải. Mặt trên và mặt cạnh cũng được làm bằng nhôm rất chắc chắn. Ở cỗ máy này ta sẽ không tìm thấy những cánh tản nhiệt hoặc lỗ thông hơi khổng lồ ở bên ngoài, bởi lẽ các mạch Continuum S2 chạy mát và hiệu quả đến mức phần thân máy có thể làm kín hoàn toàn để cách ly các nhiễu RFI và EMI.
Ở mặt sau cỗ máy, ta sẽ tìm thấy đầy đủ các cổng đầu vào XLR và RCA. Ngoài ra Continuum S2 cũng được trang bị một cặp đầu vào unity gain có thể chuyển đổi thành cổng đầu vào thông thường bằng cách cắm thêm jumper. Ngoài ra, ta cũng có thể tìm thấy các cổng đầu ra RCA và XLR trong trường hợp người dùng cần phối ghép ampli với một power-amp có công suất lớn hơn. Cọc loa được trang bị là cọc loa Cardas, đảm bảo khả năng giữ dây loa cực kỳ chắc chắn, giúp cho chất lượng kết nối trở nên tốt hơn.

Núm xoay chỉnh âm lượng đem đến cảm giác khá nặng, đầm tay, được kết hợp với bộ mã hóa quang học không nhiễu ồn, rất nhạy cảm với tốc độ chuyển động núm xoay của người dùng. Phạm vi điều chỉnh âm lượng rất rộng, trải dài dần 100dB và có thể được thực hiện với hai mức tốc độ khác nhau – tốc độ quay nhanh điều chỉnh âm lượng theo các bước 1,5dB, trong khi tốc độ quay bình thường chỉ thực hiện các bước nhỏ 0,5dB. Điều đáng tiếc là điều khiển từ xa đi kèm ampli chỉ là loại vỏ nhựa, không đem đến cảm giác cao cấp giống như Continuum S2. Bù lại, người dùng có thể thực hiện các chức năng cơ bản mà không cần rời khỏi chỗ ngồi.
Chi tiết kỹ thuật
Ampli tích hợp Continuum S2 sở hữu tầng đầu vào dựa trên cấu trúc mạch của preamp Jeff Rowland Capri 2. Toàn bộ tầng mạch này được đặt về một phía của một bảng mạch bốn lớp cho phép việc cấp nguồn và tiếp địa hiệu quả hơn. Đường dẫn tín hiệu được thiết kế khá ngắn để đảm bảo độ nguyên vẹn cho tín hiệu. Mạch đầu vào được đấu nối với biến áp nhằm loại bỏ nhiễu vòng lặp tiếp địa cũng như các can nhiễu RFI/EMI khác trong khi vẫn đảm bảo độ lợi giống với tín hiệu nhận được ở cổng đầu vào. Các điện trở đều là loại điện trở màng 0.1% nhằm hạn chế hiện tượng nhiễu nhiệt.
Tầng khuếch đại công suất sử dụng loại module chuyển đổi năng lượng cực kỳ hiệu quả. Các module này được hãng Pascal của Đan Mạch sản xuất, có khả năng cung cấp công suất 400 watt/kênh ở trở kháng 8 Ohm và tăng lên gấp đôi khi trở kháng giảm còn 4 Ohm. Continuum S2 còn được trang bị bộ nguồn chuyển mạch điều chỉnh (regulated switch-mode power supply) có độ nhiễu ồn cực thấp, sử dụng được với mọi mạng điện lưới trên toàn thế giới. Bên cạnh các kết nối analog truyền thống, Continuum S2 có thể nâng cấp thêm cổng đầu vào thông qua một số module plug-in khác nhau. Cụ thể, có hai loại là module DAC và module phono. Hạn chế duy nhất ở đây là việc chỉ có duy nhất một khe cắm module, vì thế người dùng cần phải cân nhắc họ cần lắp module nào. Module DAC cung cấp cổng đầu vào SPDIF có khả năng chuyển đổi tín hiệu 24-bit/192kHz, trong khi module phono có ba mức độ lợi và ba mức tải trở kháng khác nhau để có thể tương thích với hầu hết các loại kim đĩa than MM và MC trên thị trường hiện nay.

Có một điều rất dễ nhận thấy ở các ampli bán dẫn hiện đại và ngay cả ở các ampli đèn xuất hiện trong thời gian gần đây, đó là chúng luôn sở hữu chất âm thiên về sự trung tính. Continuum S2 cũng không phải là ngoại lệ. Ở chiếc ampli tích hợp này, các dải treble được thể hiện một cách khá thẳng thừng, không màu mè, có dấu hiệu của việc hơi khô, sắc nhưng không quá gắt, vì thế nghe lâu không bị mệt. Nhờ điều đó mà các nhạc cụ bộ dây và bộ hơi (kèn đồng) được thể hiện rất xuất sắc với các âm thanh tức thời sở hữu tốc độ vốn phải có. Độ rộng và độ sâu âm trường là những yếu tố duy nhất mà Continuum S2 thể hiện chưa thực sự tốt, dù chắc chắn nhưng vẫn thiếu đôi chút rõ nét. Dù vậy, Continuum S2 vẫn sở hữu khả năng tái hiện chi tiết khá ấn tượng, với âm hình khá nổi bật trên sân khấu âm trường.
Một trong những yếu tố mà phiên bản S2 làm rất tốt, đó là tạo nên nền âm trường tối rất cần thiết cho các bản thu acoustic. Ở đây, ta không thể tìm thấy bất cứ dấu vết nào của cái gọi là “chất âm điện tử”, những thứ khiến một bản nhạc acoustic trở nên kém tự nhiên hơn bình thường. Việc sở hữu âm nền tối với độ nhiễu ồn thấp còn giúp các tiểu tiết và tương phản trở nên rõ nét hơn. Do đó, người dùng có thể trải nghiệm những bản giao hưởng phức tạp với sự chi tiết, phân lớp chưa từng thấy ở hệ thống của họ trước đây.

Ngoài ra, các dải trung quãng thấp và trầm cũng được tái tạo lại một cách xuất sắc, cả về cao độ lẫn âm sắc. Những nhạc cụ như bassoon, cello hay contrabass được thể hiện giống như những gì mà ta có thể nghe ngoài đời thực. Tiếng trống của hệ thống cũng cho thấy khả năng kiểm soát của Continuum S2 cực kỳ tốt. Mặc dù chiếc ampli tích hợp chưa thể so sánh với những chiếc monoblock đồ sộ, ở nó ta rất hiếm khi thấy suy hao năng lượng trong các dải trầm.
Kết luận
Có lẽ sự ấn tượng nhất của Continuum S2 chính là việc đây là một ampli class D. Ngay cả ở thời điểm hiện tại, nhiều người vẫn tin rằng mạch class D chỉ mạnh chứ chưa thể đem đến những màn trình diễn đầy thuyết phục. Jeff Rowland đã chứng minh điều ngược lại, trước hết thông qua Continuum, và giờ là phiên bản S2. Như vậy, với một thiết kế đúng đắn, hãng sản xuất có thể tận dụng ưu điểm công suất cực mạnh cũng như khả năng sử dụng năng lượng hiệu quả để tạo ra một chiếc ampli đẳng cấp thế giới.
Nguyễn Hào
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây



