Là cặp monoblock đầu bảng của Cambridge Audio, ampli Cambridge Edge M đem đến ấn tượng khác hẳn so với những gì mà chúng ta thường nghĩ đến khi nhắc về thương hiệu từ Anh này.
Năm 2018, Cambridge Audio kỷ niệm 50 năm thành lập hãng bằng cách giới thiệu dòng sản phẩm cao cấp Edge. Đây là một bước tiến quan trọng vì nó đưa Cambridge Audio bước vào một phân khúc khác biệt hoàn toàn. Trước đây, khi nhắc đến Cambridge Audio, nhiều người sẽ nghĩ tới một thương hiệu âm thanh trong phân khúc bình dân hoặc tầm trung. Tuy nhiên, điều đó giờ không còn chính xác hoàn toàn nữa khi họ đã sẵn sàng để bước vào thế giới của high-end.

Sự chuẩn bị kỹ lưỡng đã đem lại kết quả tương xứng. Dòng sản phẩm Edge – được đặt theo tên của Gordon Edge, một kỹ sư âm thanh đã đem lại những giải pháp công nghệ đột phá cho hãng – khi mới ra mắt 3 mẫu sản phẩm rất ấn tượng. Đầu tiên là chiếc network player kiêm preamp Edge NQ, power ampli stereo Edge W và cuối cùng là ampli tích hợp Edge A. Đến cuối năm 2020, mảnh ghép cuối cùng – monoblock power ampli Cambridge Edge M đã xuất hiện.
Giới thiệu power ampli Cambridge Edge M
Dòng Edge luôn khiến người nghe thích thú bởi thiết kế đơn giản, trực quan nhưng không kém phần sang trọng của mình. Được làm từ những tấm nhôm khá lớn, mỗi chiếc Edge M có phần thân máy khá đồ sộ, kích thước 150 x 460 x 405mm và nặng tới 23.6kg. Các viền cạnh được bo tròn, uốn cong hoàn toàn đem đến cảm giác rất mượt. Những tấm tản nhiệt cỡ lớn được lắp ở hai bên hông để đảm bảo nhiệt độ cỗ máy luôn ở mức cho phép. Phần mặt đỉnh và đáy được làm bằng thép, có phần hơi mỏng do hơi võng nhẹ khi đè tay lên, do đó mục đích chính của chúng có thể là để phục vụ cho tiêu chí thẩm mĩ. Tấm mặt đỉnh không được đóng ốc mà có 4 ngàm lắp vào khoá chốt để cố định lại, có thể mở ra để nhìn vào bên trong rất dễ dàng.

Mỗi chiếc monoblock không chỉ được trang bị cổng đầu vào mà còn có cả đầu ra tín hiệu RCA và XLR. Do đó, chúng có thể mở rộng hệ thống thành một cấu hình phức tạp hơn. Việc lựa chọn loại cổng được thực hiện qua một switch gạt nhỏ phía sau máy. Các phần quan trọng còn lại gồm bộ cọc loa và cổng nguồn IEC. Ngoài ra, thiết bị còn cho phép chuyển đổi giữa điện 110 – 220V và lựa chọn chế độ tự chuyển về standby sau một khoảng thời gian nhất định không nhận được tín hiệu đầu vào.
Chi tiết kỹ thuật
Thiết kế bên trong của chiếc monoblock power ampli Cambridge Edge M nhìn qua khá giống với một ampli stereo. Tuy nhiên, khác biệt giữa chúng lại rất rõ rệt. Đường tín hiệu của cỗ máy được chia làm hai phần, nhưng không phải là hai kênh trái/phải mà là hai bán kỳ âm/dương. Khi quan sát kỹ hơn, ta sẽ thấy mỗi vế có 5 cặp transistor, như vậy một cặp monoblock này sử dụng tới 20 transistor để tạo công suất. Theo công bố từ nhà sản xuất, mỗi chiếc ampli Cambridge Edge M có công suất 200 watt/kênh ở trở kháng 8 Ohm và đây là công suất liên tục, đồng nghĩa với việc nó đủ sức để phối ghép với những cặp loa khó đánh, đòi hỏi công suất rất lớn.
Cặp monoblock Edge M, cũng như power-amp Edge W và ampli tích hợp Edge A, được thiết kế với mạch khuếch đại class XA. Trên thực tế, đây không phải là một công nghệ gì quá đột phá hay mới mẻ. Nó giống như một phiên bản cải tiến lại của mạch khuếch đại class AB. Mạch khuếch đại class XA khác ở chỗ nó tăng điện áp so với mạch class AB truyền thống, dịch chuyển điểm chuyển giao giữa bán kỳ âm và bán kỳ dương (là nơi xuất hiện hiện tượng méo giao điểm) ra khỏi phạm vi mà tai người có thể nghe được.

Một chiếc ampli cung cấp công suất lớn như Edge M về cơ bản cũng cần có mạch nguồn mạnh tương đương để có thể làm được điều đó. Đối với cỗ máy này, các kỹ sư quyết định sử dụng tới hai biến áp nguồn xuyến cho mỗi kênh. Thiết kế của chúng khá bất thường khi đặt chồng lên nhau – một giải pháp không mấy khi thấy ở các thiết bị audio. Nguyên nhân là bởi mỗi biến áp xuyến về cơ bản là một nam châm điện. Do phát ra điện từ trường, chúng có thể tạo ra can nhiễu ảnh hưởng đến hoạt động của các linh kiện khác. Phương pháp xử lý cơ bản nhất là đặt chúng trong khoang chống nhiễu. Tuy nhiên, còn có một cách khác là chặn can nhiễu bằng cách sử dụng một từ trường thứ hai với cực từ đảo ngược. Do đó, hai biến áp này được đặt theo cấu trúc đối xứng đảo, với các cuộn dây quấn ngược chiều nhau. Như vậy, có hai biến áp nguồn sử dụng cho khuếch đại tín hiệu và một biến áp khác, lần này có kích thước nhỏ hơn, phụ trách những hoạt động còn lại. Như vậy, một chiếc ampli Cambridge Edge M có tới 3 biến áp khác nhau.
Để làm công việc lọc, mỗi bán kỳ tín hiệu sẽ được trang bị 4 tụ lọc 10,000 µF. Tuy nhiên, tầng đầu ra tín hiệu không sử dụng tụ điện để làm buffer. Thông thường, tụ điện được dùng để chặn dòng một chiều không mong muốn. Tuy nhiên, sự xuất hiện của chúng thường gây ra một số hiệu quả không mong muốn như hạn chế băng thông hoặc gây ra nhiễu microphonic. Việc loại bỏ chúng cũng là một giải pháp công nghệ của dòng Edge, với việc sử dụng các servo đặc biệt, được đấu trong cấu trúc nối tầng trực tiếp. Do lượng tầng linh kiện khá lớn nên số lượng cầu chì được sử dụng cũng rất lớn, tổng cộng lên đến 12 chiếc cho một cỗ máy.
Trải nghiệm
Ngay từ những phút đầu tiên, cặp monoblock Edge M đã thể hiện độ động cực kỳ ấn tượng. Mặc dù những chi tiết nhạc tính khác cũng rất tốt, chính độ động mà cỗ máy đem lại mới là thứ khiến người nghe nhớ đến nhất khi trải nghiệm hệ thống sử dụng cặp ampli này, cả ở quy mô lớn lẫn quy mô nhỏ. Dù chỉ là những trường đoạn tĩnh, với vocal và một hai nhạc cụ hay ở các đoạn phức tạp, với cả dàn nhạc cùng lên tiếng, cặp ampli này vẫn thể hiện lại rất hấp dẫn.
Chính độ động ấn tượng này là yếu tố đem đến năng lượng và sức sống đến cho bản nhạc, khiến nó trở nên tươi mới và sống động hơn bao giơ hết. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là giữ nguyên được sự tự nhiên. Cặp monoblock Edge M không thêm bất cứ yếu tố mới mẻ nào vào từng màn trình diễn mà chỉ tái hiện hết tất cả những gì đã có sẵn trong bản nhạc. Nếu như người nghe có thể cảm thấy điều gì mới mẻ trong những bản nhạc quen thuộc thì đó là vì giờ đây, họ đã có thể cảm nhận các tiểu tiết một cách rõ ràng hơn, đồng thời cũng tái hiện lại quy mô không gian một cách ấn tượng hơn.
Các dải trầm của cặp monoblock nhìn chung vẫn khá mạnh, nhưng không phải kiểu mạnh đến mức thô cứng. Với một chút mềm mại, nó khiến độ động trở nên linh hoạt hơn. Tất nhiên, tiếng của các nhạc cụ bộ gõ vẫn thể hiện rõ lực cũng như mức độ tức thời của mình, nhưng khi được làm mềm đi một chút, nó sẽ tạo nên sự kết hợp hài hoà giữa nhạc tính và độ động, từ đó khiến màn trình diễn trở nên dễ nghe hơn.
Yếu tố thứ hai khiến chất âm của ampli sống động hơn chính là tính tròn trịa của nó. Ở Edge M, cảm nhận chung về chất âm có thể mô tả bằng mấy từ như: tròn trịa, đầy đặn nhưng không kém phần trôi chảy. Nhìn chung, đây cũng là một phần đặc điểm của Cambridge Audio nói chugn và dòng Edge nói riêng.
Yếu tố thứ ba khiến ampli giàu nhạc tính chính là chất âm treble có phần được làm ngọt đi một chút. Hiển nhiên, chiếc ampli này vẫn thể hiện được rất nhiều chi tiết, nhưng ở các đoạn soprano, phần nào ta vẫn có thể cảm nhận được một chất âm khá giống đèn – mềm, mượt, không quá sắc hay chói tai. Do đó, người nghe cũng không cần phải băn khoăn về vấn đề sibilance. Đây cũng là lý do người nghe có thể trải nghiệm hàng giờ liền mà không hề cảm thấy mệt mỏi.
Kết luận
Với chất âm ấn tượng cùng một mức giá thành khá hấp dẫn ở phân khúc tầm trung – cao cấp, ampli Edge M là mảnh ghép còn thiếu để người nghe có thể xây dựng nên một hệ thống hoàn hảo, phù hợp với gu nghe nhạc của riêng mình. Đây sẽ là một hệ thống mà họ muốn gắn bó lâu dài, đầu tư nghiêm túc để từ đó nâng tầm trải nghiệm của mình.
Nguyễn Hào
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây



