Về bản chất, Primare I15 và I15 Prisma rất giống nhau. Khác biệt giữa hai chiếc ampli này nằm ở chỗ I15 là ampli thuần analog, trong khi bản Prisma cung cấp kết nối digital cũng như khả năng streaming online.
Trong quan điểm của audiophile, ampli class D vẫn là một thứ gì đó chưa thực sự gắn liền với hai từ cao cấp, vẫn còn thua kém ampli class A và A/B rất nhiều. Tuy nhiên, quan điểm này ngày càng bị thách thức bởi nhiều thương hiệu âm thanh như Primare hay Bel Canto. Có nhiều lý do để họ lựa chọn loại mạch khuếch đại này. Trước hết, mạch class D có thể đảm bảo cho một ampli dù có kích thước nhỏ nhưng vẫn đảm bảo được công suất lớn, bởi nó giải quyết một cách khá hiệu quả vấn đề phát sinh nhiệt. Thứ hai, việc ampli class D được đưa vào các sản phẩm ở phân khúc giá trên bình dân cho thấy sau nhiều năm, mạch này đã được cải thiện rất nhiều để đảm bảo yếu tố nhạc tính. Tất nhiên, mạch khuếch đại class D được không phải loại phổ thông, rẻ tiền mà phải được lựa chọn từ các hãng sản xuất có uy tín để có thể đảm bảo được đúng như yêu cầu.

Giới thiệu ampli tích hợp
Về bản chất, Primare I15 và I15 Prisma gần như là một. Khác biệt giữa hai chiếc ampli này nằm ở chỗ I15 là ampli thuần analog, trong khi bản Prisma cung cấp kết nối digital cũng như khả năng streaming online. Do đó, thiết kế bên ngoài của hai chiếc ampli này cũng giống nhau tới 90%. Cả hai đều sở hữu ngoại hình nhỏ gọn, tối giản và tinh tế, hoàn toàn không có bất cứ sự thô kệch, cồng kềnh nào biểu hiện ở bên ngoài. Thân máy được làm bằng kim loại khá chắc chắn, trong khi phần mặt trước được làm từ nhôm phay xước khá dày dặn. Khác với các ampli class A hay class A/B, ở Primare I15, ta sẽ không thể tìm thấy dấu vết của những cánh tản nhiệt kim loại đồ sộ do mạch class D chạy mát và tiêu thụ năng lượng hiệu quả hơn rất nhiều. Do vậy, dù mang kích thước 350 x 73 x 329 mm, cỗ máy này vẫn chỉ nặng khoảng 6.5kg, giống như khá nhiều ampli tích hợp bình dân. Thế nhưng, ẩn sau sự nhỏ nhắn, nhẹ nhàng ấy lại là một chất âm không hề bình dân chút nào. Lựa chọn màu hoàn thiện của cỗ máy là đen và bạc (gọi là màu titanium). Nhìn chung đây là các màu rất cơ bản, có thể phù hợp với bất cứ phối ghép nào, dù là truyền thống hay hiện đại.

Có thể thấy Primare đã kết hợp giữa phong cách thẩm mỹ của Bắc Âu, thiết kế mạch đơn giản cùng chế độ hoạt động không hề phức tạp để tạo ra một thiết bị đậm chất tối giản từ trong ra ngoài. Đây chính phong cách chung cho toàn bộ thiết kế của hãng, xuất hiện không chỉ ở những ampli tích hợp mà còn có mặt trên bất cứ ampli nào.
Thiết kế và chi tiết
Sự tối giản của cỗ máy được thể hiện rất rõ ngay từ cái nhìn đầu tiên. Ở ampli thông thường, tại mặt trước chúng ta sẽ tìm thấy các núm xoay lựa chọn cổng đầu vào, chỉnh âm lượng, màn hình cùng một số nút nhỏ tạo thành cụm điều khiển. Ở Primare I15, các núm xoay đã được thay thế hoàn toàn, chỉ còn lại màn hình và nút bấm. Có tổng cộng 4 nút gồm bật/tắt máy, selector và hai nút mũi tên lên/xuống. Các nút mũi tên sẽ làm nhiệm vụ chỉnh âm lượng trong khi selector dùng để chuyển cổng tín hiệu đầu vào khi không ở màn hình menu. Màn hình rất sáng và kích thước khá to, có thể thấy rõ khi ngồi nhìn từ khoảng cách tương đối xa.
Vì là một ampli thuần analog nên mặt sau của thiết bị chỉ được trang bị các cổng đầu vào RCA. Đầu ra cũng có hai cặp cổng RCA, trong đó một cặp là tín hiệu variable, dùng để làm cổng preamp out trong trường hợp người dùng muốn kết nối với power-amp có công suất mạnh hơn. Cổng có chữ “LINE” là cổng tín hiệu fixed level, dùng để kết nối với các thiết bị khác có mạch chỉnh âm lượng riêng, chẳng hạn như AV receiver trong trường hợp người dùng muốn tích hợp hệ thống nghe nhạc và xem phim làm một.

Cũng giống như I15 Prisma, bên trong phần thân máy nhỏ nhắn, gọn gàng của ampli I15 là mạch khuếch đại công suất Class D sử dụng các module Hypex vốn được đánh giá rất tốt. Công suất của chiếc ampli này là 60 watt mỗi kênh ở trở kháng 8ohm và tăng lên 100 watt với trở kháng 4 Ohm. Mức công suất này dù không phải quá lớn nhưng vẫn đủ để I15 phối ghép với hầu hết các mẫu loa đang có mặt trên thị trường hiện nay. Chiếc ampli này sử dụng bộ nguồn chuyển mạch (switch-mode power supply) công suất lớn do chính hãng thiết kế riêng. Tuy nhiên, do không cần phải cấp nguồn cho mạch DAC và network streamer như I15 Prisma, bộ nguồn này đã được tinh chỉnh lại để có thể đem đến khả năng trình diễn tuyệt vời hơn.
Nếu chú ý đến cổng đầu vào RCA A1 của ampli, ta sẽ thấy nó còn có thêm chữ PHONO cũng như cọc tiếp địa ở phía trên. Đây là dấu hiệu cho thấy người dùng có thể lắp thêm module MM15, từ đó, biến cổng này thành cổng phono cho phép kết nối ampli với mâm đĩa than dùng kim MM. Việc sử dụng module rời cho phép thiết kế máy trở nên đơn giản, gọn gàng hơn, từ đó giữ cho đường mạch ngắn, đảm bảo sự toàn vẹn của tín hiệu âm thanh.

Dù chỉ mang công suất 60 watt, I15 chưa bao giờ khiến cho người nghe cảm giác bị hụt hơi hay yếu thế. Ngay cả những cặp loa vốn khá kén ampli như Chario Pegasus cũng có thể được kiểm soát rất tốt. Chất âm bass không bị ề à mà ngược lại, đanh, gọn, đem lại cảm giác có lực và chuẩn về thời gian là những dấu hiệu cho thấy đây là một chiếc ampli rất dễ phối ghép, sẵn sàng đem đến những màn trình diễn cực kỳ ấn tượng. Bản thân Cielo cũng có độ nhạy khá cao, vì thế chỉ cần chỉnh âm lượng lên một chút là âm thanh mà ta nghe được sẽ rất lớn.
Ampli class D thường bị chê là khô, sắc, thiếu đi nhạc tính. Ở I15, điều này hoàn toàn không diễn ra. Chất âm mà cặp loa thể hiện dù không ngọt ngào, thiên về âm trầm nhưng có thể nhận xét bằng hai chữ “tự nhiên”. Những màn thể hiện của Wilhelm Kempff trên piano, đặc biệt là bản Moonlight Sonata khổ 3 cực kỳ ấn tượng, đến mức ta có cảm giác như bản thu này đang diễn ra ngoài đời thực, với người nghệ sĩ và cây đàn xuất hiện ngay trong chính căn phòng này. Ở bản Chevaliers De Sangreal do dàn giao hưởng quốc gia Đan Mạch thể hiện, cảm giác về âm trường khá rộng, khiến cho ngay cả khi âm hình có hơi hướng trước nhẹ, ta vẫn cảm thấy độ sâu của nó, khi mà các nhạc cụ nền không bị chen lấn vào nhau.
Kết luận
Những chiếc ampli của Primare, dù là sơ nhập như I15 cũng đã cho thấy rằng mạch khuếch đại class D đã thay đổi rất nhiều để phù hợp với nhu cầu của audiophile hiện nay. Chưa kể, các ưu điểm như công suất, sự nhỏ gọn càng được phát huy mạnh bởi xu hướng tối giản do không gian sống hiện đại ngày càng thu hẹp dần. Trong tầm giá dưới 2000 đô la, khi không thực sự có nhu cầu sử dụng kết nối digital, đây chính là một chiếc ampli không nên bỏ qua. Còn nếu như người dùng có nhu cầu chơi nhạc số, Primare I15 Prisma chính là sự thay thế hoàn hảo.
Nguyễn Hào
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây



