Ampli tích hợp Primare I25 Prisma

Kết hợp một ampli tích hợp cao cấp với hai module, một module DAC và một module streaming, ta sẽ có một sản phẩm chất lượng. Ampli tích hợp Primare I25 Prisma chính là thiết bị như vậy.

Trên thị trường hiện nay có hai loại ampli tích hợp. Một loại là ampli tích hợp truyền thống, chỉ có các kết nối analog thông thường. Loại còn lại ở một cấp độ khác hẳn khi tích hợp mạch DAC cũng đưa khả năng kết nối, nhận tín hiệu từ internet vào thiết kế preamp/power-amp trong cùng một thân máy. Điều này khiến nó trở thành một thiết bị bốn trong một đúng nghĩa, khiến hệ thống trở nên nhỏ gọn, tiện lợi hơn rất nhiều.

Primare I25 Prisma trang

Primare – một thương hiệu âm thanh đến từ Thụy Điển hiểu rất rõ về sự đối lập trong quan điểm của các audiophile ở thời kỳ hiện nay. Một mặt, họ vẫn muốn duy trì chất âm thuần khiết, không bị thay đổi. Mặt khác, họ vẫn muốn cỗ máy của mình được áp dụng những công nghệ mới nhất, đem đến sự tiện lợi cũng như các tính năng mà thiết bị truyền thống không thể nào có được. I25 Prisma là một trong những câu trả lời của họ dành cho nhu cầu này. Về cơ bản, đây chính là ampli tích hợp I25, với công suất 100 watt mỗi kênh, sử dụng mạch khuếch đại UFPD 2 Class D kết hợp cùng mạch DAC và network streaming Prisma.

Thiết kế

Là một phiên bản nâng cấp nhẹ từ các thiết bị Primare trước đây, I25 Prisma vẫn sở hữu một phong cách đậm chất Na-Uy, đơn giản và thực dụng nhưng vẫn sở hữu yếu tố thẩm mỹ cẩn thiết. Phần mặt trước được làm bằng nhôm phay dày dặn kết hợp cùng thân máy chính đem đến cảm giác rất bền bỉ, chắc chắn. Sự đơn giản thể hiện rất rõ ở mặt trước khi chỉ có màn hình cùng một núm xoay vừa làm nhiệm vụ chỉnh âm lượng, vừa lựa chọn cổng đầu vào. Đi kèm với cụm này là ba nút nhỏ, một để chuyển chế độ hoạt động sang standby, hai nút khác dùng để điều hướng cho menu và cài đặt thiết lập. Dù khá dài nhưng chiều cao của màn hình OLED chỉ khoảng 2cm, hơi khó đọc khi nhìn từ xa trong trường hợp người dùng muốn biết đang chơi đến bài bao nhiêu, bù lại chỉ báo âm lượng được thiết kế lớn hơn chút. Bên trong cỗ máy được thiết kế khá gọn gàng với các bảng mạch 2 và 4 lớp, dùng cả hai mặt để đảm bảo rút ngắn đường tín hiệu. Các linh kiện lắp trực tiếp lên bề mặt cũng được tận dụng hết mức có thể để đảm bảo không kéo dài đường tín hiệu, giữ cho tín hiệu luôn được nguyên vẹn nhất. Sự nhỏ gọn, tiện lợi của I25 Prisma cũng được thể hiện qua kích thước 430 x 106 x 420mm và khối lượng chỉ 11kg.

Primare I25 Prisma dep

Chi tiết kỹ thuật

I25 Prisma sở hữu mức công suất khá cao, 100 watt/kênh ở trở kháng 8 Ohm. Thiết bị sử dụng mạch khuếch đại UFPD 2 Class D – một phiên bản cải tiến từ mạch UFPD đời đầu. UFPD là viết tắt của cụm từ Ultra-Fast Power Device – module khuếch đại với cấu trúc cân bằng, sử dụng tổng cộng bốn sò công suất, như vậy mỗi kênh có hai sò. Primare kiên trì với việc sử dụng mạch khuếch đại class D bởi thiết kế này có khá nhiều ưu điểm, một trong số đó là việc có thể gắn trực tiếp tản nhiệt lên bảng mạch của module khuếch đại, từ đó rút ngắn đường tín hiệu và cho phép tầng đầu ra được kết nối trực tiếp vào cọc loa.

Ở mặt sau loa, ta sẽ tìm thấy 5 cổng đầu vào và 2 cổng đầu ra RCA, cùng với các jack sync/trigger và đầu vào RS232 phục vụ cho việc đa phòng. Đây chính là thiết kế cơ bản của I25 – một ampli tích hợp thuần analog, rất đơn giản, gọn gàng và dễ hiểu trong thiết kế, phù hợp với hầu như mọi đối tượng sử dụng. Thiết kế nhỏ gọn, dễ di chuyển cũng khiến chiếc ampli phù hợp với hầu hết mọi không gian hiện đại.

Primare I25 Prisma sau

Quay lại một chút về lịch sử của hãng, Primare được hình thành từ việc Bo Christensen – một kỹ sư âm thanh, đồng thời là audiophile không hài lòng với chất lượng âm thanh, tính thẩm mỹ và giao diện người dùng của các thiết bị âm thanh điển hình lúc bấy giờ. Cuối thập niên 80, ông tập hợp một đội ngũ các kỹ sư thiết kế có cùng tư tưởng, trong đó có kỹ sư điện tử Bent Nielsen, và thành lập Primare. Nhiệm vụ mà hãng đặt ra là thiết kế các thiết bị hi-fi với chất âm vượt trội, sở hữu sự tinh tế, thân thiện với người sử dụng, đồng thời phá vỡ tiêu chuẩn 12 tháng vòng đời khi đó bằng cách áp dụng khả năng nâng cấp linh hoạt với những công nghệ rất hiện đại lúc bấy giờ.

Christensen đã kết hợp giữa phong cách thẩm mỹ của Bắc Âu, thiết kế mạch đơn giản cùng chế độ hoạt động không hề phức tạp để tạo ra một thiết bị đậm chất tối giản từ trong ra ngoài. Dù Christensen rời khỏi Primare năm 1994, Nielsen vẫn ở lại, làm việc cùng Lars Pedersen và Michael Bladelius, nâng cấp và tập trung vào cả hai mảng digital cũng như analog.

Primare I25 Prisma trong

Là một thiết bị ban đầu thuần analog, đồng thời đề cao việc giữ đường tín hiệu ngắn, đó là những lý do khiến I25 được thiết kế dạng module, có khe trống cho các module digital. Chúng bao gồm hai module nâng cấp được lắp sẵn tại nhà máy hoặc được lắp ở các thiết bị cũ khi cần. Đầu tiên là module DAC DM35, cung cấp các cổng USB và coaxial/optical, sử dụng chip DAC AKM AK4497 với khả năng cho phép hỗ trợ PCM 32-bit / 768kHz và DSD256. Primare cho biết mạch DAC này sử dụng bộ lọc dùng tụ chuyển mạch OSR Doubler mới được phát triển, được cho là có khả năng giảm đáng kể sự suy hao chất lượng âm thanh thông qua việc định hình nhiễu ồn, với mức nhiễu ồn âm nền làm phẳng lên đến 200kHz. Module DAC phải được lắp đặt nếu muốn sử dụng module SM35. Đây chính là nền tảng bổ sung để ampli tích hợp I25 trở thành I25 Prisma.

Prisma là nền tảng streaming digital của Primare, là phương tiện để cung cấp khả năng kết nối đa vùng đa phòng, cũng như điều khiển, chơi nhạc từ các hệ thống lưu trữ và phát trực tuyến cả có dây lẫn không dây. Mọi hoạt động đều được quản lý từ bất kỳ thiết bị di động nào thông qua app điều khiển hệ thống chuyên dụng. Ngoài Bluetooth, AirPlay và Spotify Connect, nền tảng Google Chromecast của Prisma kết hợp với Google Home cho phép kết nối trực tiếp với hàng trăm ứng dụng streaming. Trong năm 2020, Prisma tiến hành cập nhật, hỗ trợ cho điện thoại thông minh Android (trước đó chỉ dùng được trên iPhone, iPad và máy tính bảng Android), AirPlay 2 và tương thích Roon. Ứng dụng điều khiển bao gồm tất cả mọi thứ người sử dụng cần, từ thay đổi cổng đầu vào tín hiệu, tăng giảm âm lượng, điều chỉnh độ nhạy đầu vào, đổi tên đầu vào và điều khiển đa phòng / đa vùng giữa các thiết bị hỗ trợ Prisma khác.

Kết luận

I25 Prisma về cơ bản không thay đổi nhiều so với I15 Prisma. Chúng đều là những phiên bản nâng cấp từ các ampli cơ bản của Primare, đem đến khả năng hỗ trợ thiết bị digital cũng như streaming online. Ở I25 Prisma, ngoài việc sở hữu công suất mạnh, dễ phối ghép với ampli, người dùng cũng sẽ bất ngờ bởi họ khó có thể nhận ra được đây thực chất là một ampli class D. Khả năng trình diễn cũng như nhạc tính của I25 Prisma cũng có thể sánh ngang với bất cứ ampli class A/B nào, khiến nó trở thành một ampli rất sáng giá cho các hệ thống âm thanh hiện đại.

Nguyễn Hào

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Roon – “Trái tim” của một hệ thống tương lai