Với thành công ở nhiều lĩnh vực, tiến sĩ Harman được chỉ định một chức vụ rất cao trong bộ máy nhà nước. Thế nhưng, điều này suýt nữa hủy diệt thương hiệu Harman-Kardon.
Trong số các thương vụ làm ăn mạo hiểm nhất của Sidney Harman giai đoạn thập niên 70, chúng ta không thể không nhắc đến thương vụ đầu tư cho một nhà máy sản xuất gương cạnh của ô tô ở Tennessee. Khả năng quản lý nhà máy tuyệt vời của Harman cho thấy ông không chỉ là một người thầy tài năng mà còn là một nhà kinh doanh đích thực. Trong cái gọi là “Thử nghiệm Bolivar”, ông đã áp dụng các phương pháp dạy học ở Friends World College vào việc quản lý nhà máy này. Một trong những nỗ lực lớn nhất của Sidney Harman là tăng sự thỏa mãn cũng như sự sáng tạo nhân công bằng cách tạo ra môi trường làm việc lấy người lao động làm trung tâm, khiến ông trở thành người tiên phong trong lĩnh vực quản lý với phong cách lãnh đạo và nhân viên cùng tham gia (participatory management). Hơn nữa, các chiến lược quản lý của ông cũng trở thành động lực thúc đẩy thành công ở Harman-Kardon trong suốt thập niên 60 và 70.
Cho đến giữa thập niên 70, Harman-Kardon đã trở thành một thế lực lớn của lĩnh vực hi-fi stereo ở Mỹ. Điều quan trọng là công ty đã kiếm được lợi nhuận lớn thông qua việc định hướng sử dụng các thiết bị tách rời. Thay vì cung cấp hệ thống stereo tích hợp, Harman-Kadon kinh doanh receiver, loa, ampli hay các thiết bị mà người mua có thể mua rời, sau đó đấu dây vào để tạo ra một hệ thống âm thanh hoàn chỉnh. Đến năm 1976, doanh thu hàng năm của công ty đạt 136.5 triệu đô la và lợi nhuận ròng lên đến con số hơn 9.1 triệu đô la.

Tuy nhiên, Sidney Harman vẫn chưa dừng lại ở đó. Ông tiếp tục theo đuổi nhiều niềm đam mê khác, trong đó có chính trị. Năm 1976, tổng thống Jimmy Carter chỉ định tiến sĩ Harman trở thành phó Bộ trưởng Bộ Tài chính. Harman chấp nhận và sang năm 1977, ông bán 25% cổ phần của mình ở Harman-Kardon cho một tập đoàn lớn ở Chicago, Beatrice Foods. Sau thương vụ này, ông thu lại về hơn 100 triệu đô và có nhiệm kỳ khá thành công dưới thời Carter. Ngược lại, Beatrice không có được thành công nào cụ thể kể từ khi đưa Harman-Kardon trở thành một trong hơn 200 công ty con dưới quyền, thậm chí còn suýt hủy diệt cả thương hiệu này.
Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, Beatrice gần như xẻ nát công ty này, bán đi một số bộ phận của nó và không thể quản lý hiệu quả phần còn lại. Đến năm 1980, quy mô của Harman-Kardon chỉ còn bằng 60% so với thời kỳ Sidney Harman vẫn còn đứng đầu công ty. Nhánh Harman-Kardon gốc trên thực tế đã bị bán lại cho một công ty của Nhật Bản tên là Shin Shirasuna, về sau bị tập đoàn Hitachi thâu tóm lại. Về cơ bản, những gì còn sót lại của Harman-Kardon chỉ còn JBL (một thương hiệu chuyên sản xuất loa) cùng một vài nhà phân phối quốc tế khác. Mặc cho sự tàn phá của Beatrice quá lớn, JBL vẫn là một người khổng lồ của lĩnh vực audio, chuyên sản xuất những mẫu loa cao cấp. Không có gì kỳ lạ, bởi thực tế JBL còn nhiều tuổi và nổi tiếng hơn cả Harman-Kardon. Thương hiệu này được thành lập vào năm 1946 và trong suốt thời gian dài, đây là một trong những thương hiệu tiên phong trong lịch sử phát triển của loa.
Sidney Harman, từ vị trí của mình ở Washington D.C., vẫn tiếp tục theo dõi Harman-Kardon trong suốt quá trình Beatrice quản lý công ty này. Khi Carter kết thúc nhiệm kỳ vào năm 1980, Harman quyết định giành lại quyền kiểm soát thương hiệu và khôi phục lại vị thế của nó. Ngay trong năm đó, Sidney Harman cùng một nhóm đầu tư bỏ ra 55 triệu đô la để mua lại 60% lượng tài sản mà Harman từng bán năm 1977. Bản thân tiến sĩ Harman cũng lập ra một loạt các trụ sở trọng yếu ở Washington D.C. và bắt đầu quản lý cho thương hiệu mới Harman International Industries trong giai đoạn thập niên 80.

Rất nhiều người trong ngành đã tỏ ý nghi ngờ quyết định trở lại với ngành công nghiệp âm thanh của Harman lúc bấy giờ. Ngoài vấn đề tuổi tác (Harman khi ấy đã 61 tuổi tác), nhiều người còn lo rằng ông sẽ không đủ sức để cạnh tranh trong một ngành công nghiệp đổi thay nhanh chóng, với ngày càng nhiều đối thủ toàn cầu xuất hiện. Trong giai đoạn ngành điện tử của Mỹ có dấu hiệu đi xuống, ta có thể thấy rõ sự cạnh tranh của các đối thủ từ bên ngoài, đặc biệt là Nhật Bản. Lúc này, các công ty của Mỹ chỉ có thể chật vật giành giật thị trường ngay chính tại quê nhà và điều này càng gia tăng áp lực cho nhưng công ty như Harman International Industries.
Bất chấp những dự đoán ảm đạm như vậy, Harman vẫn đưa tập đoàn của mình vượt qua giai đoạn thập niên 80 – 90 và lại trở thành một thế lực lớn, tập trung vào phân khúc cao cấp và chuyên nghiệp. Để phát triển, ông đã thây tóm hàng loạt các công ty nhỏ, tổ chức lại hoạt động và phương pháp quản lý, cho phép họ vận hành gần như tự quyết nhưng vẫn dưới sự giám sát của mình. Chiến thuật này cuối cùng cũng đã thành công lớn và Harman International Industries trở thành một trong số ít các thương hiệu audio lớn của Mỹ trong suốt những năm cuối thế kỷ 20.
(Hết kỳ 2)
Harman – Từ đam mê cá nhân đến thương hiệu toàn cầu (phần 1)
Harman – Từ đam mê cá nhân đến thương hiệu toàn cầu (phần 3)
Nguyễn Hào
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây



