Nằm trong phân khúc tầm trung của thương hiệu loa Anh B&W, 705 S2 là lựa chọn hợp lý cho những ai muốn trải nghiệm loa của họ nhưng không có chi phí đủ lớn hay phòng nghe đủ rộng.
CM series thế hệ thứ hai là một trong những dòng loa có tuổi đời khá ngắn của Bowers & Wilkins (B&W) khi chỉ tồn tại trong khoảng thời gian khá ngắn. Tuy chất lượng khá tốt, đây chưa thực sự là một dòng loa xuất sắc trong tầm giá của mình khi mà theo đánh giá của nhiều người, lẽ ra nó còn có có thể làm tốt được hơn thế nhiều. Nhận ra điều này, năm 2017, B&W đã cho ra mắt một dòng loa mới để thay thế – dòng loa 700 S2. Sở dĩ có hậu tố “S2” bởi trước đó gần 20 năm, B&W cũng đã từng có dòng 700 đầu tiên. Nhìn chung, đây chính là dòng loa để lấp vào khoảng trống giữa dòng CM và dòng loa 800 D3 đầu bảng của họ. Công nghệ là một trong những thế mạnh lớn nhất của họ, và cần phải khẳng định rằng chính khả năng nắm bắt công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng làm nên những cặp loa B&W, và điều này vẫn đúng ngay cả khi ta xem xét ở một cặp loa bookshelf nhỏ như 705 S2.

Giới thiệu loa B&W 705 S2
Dòng loa 700 hiện nay có tám mẫu sản phẩm: ba loa bookshelf, ba loa sàn đứng và hai loa trung tâm. Về giá cả, các mẫu loa 700 dao động từ 4500 đô la một cặp (loa sàn đứng 702 S2) cho đến 1200 đô la (loa bookshelf 707 S2). 705 S2 với mức giá 2500 đô la một cặp rất dễ thu hút người nghe bởi một số lý do sau. Nó không chỉ là cặp loa sàn đứng cỡ nhỏ trong dòng 700, phù hợp với những căn phòng không quá lớn, thậm chí không phải phòng nghe chuyên dụng mà còn sở hữu giá cả phải chăng nhất, mà còn là cặp loa ba đường tiếng mang trong mình tất cả công nghệ được áp dụng cho cặp loa 702 S2 lớn hơn nhiều, với mức giá chỉ hơn một nửa một chút. Nhìn chung, nếu có điều kiện dùng loa sàn đứng, 704 S2 sẽ là lựa chọn sáng giá. Ngược lại, ở những phòng nghe nhỏ, việc sử dụng 705 S2 sẽ hợp lý hơn.

Thiết kế của 705 S2 nhìn chung khá gọn, với kích thước 407mm x 200mm x 301mm và chỉ nặng khoảng 9.3kg mỗi chiếc. Thùng loa được làm từ ván gỗ MDF, gia cố chắc chắn ở bên trong, nhưng không phải bằng hệ thống Matrix độc quyền của B&W. Trình độ chế tác thùg loa đến mức nếu chỉ nhìn thoáng qua, ta sẽ có ấn tượng như thể thùng loa được làm từ một khối gỗ đơn nhất do thiếu vắng dấu vết của các mối ghép hay ốc bắt. Toàn bộ dòng 700 được cung cấp một trong ba lựa chọn màu cơ bản: đen (gloss black), trắng (Satin White) và đỏ vân gỗ (Rosenut). Nhìn chung các màu này đều rất đẹp và dễ dàng khiến loa phù hợp với không gian nội thất của một phòng khách bình thường.
Chi tiết kỹ thuật
Nếu như dòng CM cũ sử dụng tweeter màng vòm kép bằng nhôm, dòng 800 D3 sử dụng tweeter màng kim cương thì dòng 700 có thể xem như là dòng đứng giữa khi sử dụng tweeter màng vòm carbon đường kính 2.5cm. Vì vật liệu này có độ cứng chắc cao hơn, nó cho phép mở rộng đáp tuyến tần số một cách dễ dàng, đồng thời đẩy tần số xuất hiện suy hao ra xa khỏi ngưỡng nghe của người (47kHz), từ đó có tác động rất tích cực đến các dải cao. Màng vòm tweeter được thiết kế tách rời để ngăn chặn tác động của can nhiễu do rung chấn sinh ra, trong khi sóng phát sinh ở phía sau màng loa được tiêu giảm năng lượng nhờ một ống dài, nhỏ giống như ở dòng loa Nautilus của hãng. Đồng thời, để âm thanh từ driver midwoofer không ảnh hưởng đến tweeter, driver tweeter cũng được đặt trong một khoang riêng hình ống thuôn về phía sau, được làm bằng vật liệu nhôm, đặt ở trên nóc thùng loa chính giống như 805 D3.

Phía dưới khoang loa tweeter là driver midwoofer màng nón 16.5cm được làm từ vật liệu Continuum. Đây là một loại sợi dệt tổng hợp đang chờ được cấp bằng độc quyền của B&W, thay thế cho driver Kevlar vốn được hãng áp dụng từ nhiều thập kỷ qua. Khác biệt rõ nhất giữa hai loại vật liệu này là màu sắc, khi Kevlar có màu vàng tươi, còn Continuum mang màu bạc. Theo B&W, driver Continuum có khả năng kiểm soát hiện tượng vỡ tiếng tốt hơn, đồng thời sở hữu phạm vi tỏa âm rộng hơn. Đối với các loại màng nón được làm từ vật liệu không phải dạng sợi, chẳng hạn như giấy, kim loại hay plastic, khi màng nón đạt đến giới hạn của chúng, chúng sẽ không còn di chuyển đẩy về trước hay ra sau với quỹ đạo hình piston nữa và từ đó bắt đầu gây ra hiện tượng vỡ tiếng. Sở dĩ hiện tượng này khó kiểm soát vì chúng đến bất ngờ và diễn ra khác nhau với những dải tần số khác nhau. Cũng theo hãng, khung nhôm của driver được tách hoàn toàn khỏi thùng loa nhờ vào lớp kê ở đằng sau. Lớp kê này sử dụng công nghệ tune mass damper để hạn chế cộng hưởng xuống tới mức tối thiểu.
Cũng giống như dòng loa 800 D3, 705 S2 sử dụng công nghệ bass phản xạ Flowport quen thuộc. Cổng bass phản xạ này được làm bằng nhựa ABS đen, có bề mặt được thiết kế giống với bề mặt quả bóng golf, không chỉ đảm bảo yếu tố thẩm mỹ mà còn giúp kiểm soát tốt hơn luồng không khí đi qua, giảm những tiếng ồn phát sinh do chuyển động nhanh của luồng không khí.

Từ những thông tin mà B&W cung cấp, ta cũng có thể rút ra một số điều về 705 S2 như sau: Trở kháng của loa tại dải 1kHz là 8 Ohm, với giá trị nhỏ nhất là 3.7 Ohm khi chơi các dải trầm. Độ nhay 88dB ở khoảng cách 1m cho thấy đây là một cặp loa khá dễ phối ghép ampli. Dù vậy, người nghe vẫn cần phối ghép cặp loa này với một ampli có công suất dồi dào để đảm bảo các trải nghiệm ấn tượng nhất. Đáp tuyến tần số 50Hz – 28kHz ±3dB nhìn chung khá hợp lý, khi mà kích thước cặp loa không phải là quá to.
Kết luận
Chỉ với một khoản tiền không quá lớn, người dùng đã có thể tìm thấy cho mình một cặp loa hay, ngoại hình đẹp, dễ phối ghép ampli và quan trọng hơn là hòa nhập một cách dễ dàng vào bất cứ không gian phòng nghe nào với kích thước vừa phải. Những gì họ cần làm chỉ là đặt loa lên kệ hoặc một cặp chân loa chất lượng tốt, sau đó ngồi xuống và trải nghiệm chất lượng âm thanh. Đây chắc chắn sẽ là một cặp loa dành cho những ai muốn trải nghiệm B&W nhưng không sở hữu một số tiền đầu tư quá lớn hoặc một phòng nghe riêng biệt, điều mà khách hàng ở phân khúc này không phải lúc nào cũng có được.
Nguyễn Hào
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây



