Không chỉ sở hữu chất âm ấn tượng của dòng Stage, A130 còn là một cặp loa nhỏ cực kỳ dễ phối ghép. Bất cứ ampli hay AV receiver phổ thông nào cũng có thể đi cùng với cặp loa này.
Trái với suy nghĩ thông thường cho rằng loa sàn đứng thường sở hữu chất lượng âm thanh tốt hơn loa bookshelf, các công nghệ hiện đại ngày nay đã giảm dần khoảng cách giữa hai loại loa này. Khi so sánh giữa hai một bookshelf và một cặp loa sàn đứng, có thể thấy rằng nhà sản xuất đã bắt đầu tập trung đầu tư vào linh kiện, thiết bị, cắt giảm chi phí thiết kế thùng loa để đảm bảo hiệu năng tốt nhất cho cặp loa bookshelf. Các kỹ thuật đóng thùng loa cũng như công nghệ làm loa hiện đại đã đơn giản hóa quá trình sản xuất loa, cân bằng giữa hiệu năng, giá thành và ngoại hình thành phẩm khiến cặp loa trở nên rất đáng giá. Do đó, không hiếm những cặp loa cỡ nhỏ, giá thành dễ tiếp cận nhưng vẫn dễ dàng cạnh tranh với các đối thủ với số tiền gấp hai hoặc ba lần.
Với những lý do như vậy, ta có thể tìm thấy trong phân khúc cao cấp nhiều cặp loa nhỏ sở hữu khả năng trình diễn đáng kinh ngạc như B&W 706 s2 hay Dynaudio Special Forty. Tuy nhiên, phân khúc bình dân cũng có những cặp loa bookshelf chất lượng khá tốt. JBL Stage A130 chính là một trong số đó.
Giới thiệu về JBL Stage A130.
Dòng loa Stage của JBL xuất hiện vào năm 2018, thay thế cho dòng Studio vốn khá thành công từ một vài năm trước. So với dòng Arena vẫn đang được sản xuất, Stage có một vài điểm khá giống. Với ba mẫu loa sàn đứng, hai loa bookshelf, hai loa trung tâm và hai loa siêu trầm, đây là một dòng sản phẩm khá toàn diện, phục vụ cho cả nhu cầu nghe nhạc cũng như xem phim. Tuy nhiên, dòng Stage không có loa surround chuyên dụng – một sản phẩm mà các hãng khi thiết kế hệ thống xem phim thường sẽ không bỏ qua. Để xây dựng một hệ thống âm thanh đa kênh hoàn chỉnh cho mục đích xem phim, người dùng chỉ cần sử dụng các loa bookshelf để lấp vào vị trí các loa surround là được.

A130 là cặp loa bookshelf cỡ lớn nhất trong dòng này, với kích thước 190 x 230 x 321mm cùng khối lượng 5.45kg mỗi chiếc. Thùng loa từ gỗ MDF khá dày dặn, được hoàn thiện với hai lựa chọn màu là Pantone Black hoặc Two-Tone Wood. Pantone Black là vinyl đen phủ vân trong khi ở Two-Tone Wood, phần đỉnh loa được làm màu Pantone Black còn những vị trí còn lại sử dụng vinyl màu gỗ. Phía sau thùng loa là lỗ thông hơi nhỏ, vì thế khi tìm vị trí đặt loa, người nghe nên cân nhắc khoảng cách giữa loa với tường phía sau vừa đủ để tạo nên các dải trầm tốt nhất. Loa vẫn sử dụng ê-căng vải truyền thống, với chân cắm lên lỗ ở mặt trước. Phụ kiện đi cùng là bốn chân đế nhỏ để cố định cho loa khi đặt trên các vị trí như mặt bàn hay tủ, kệ.
Chi tiết kỹ thuật
Stage A130 sở hữu cấu trúc 2 đường tiếng quen thuộc, với 2 driver, trong đó có một driver tweeter và một driver midwoofer. Driver tweeter của loa có màng vòm làm bằng nhôm, đường kính 2.5cm. Driver này được đặt đặc biệt bên trong họng kèn để có được phạm vi tỏa âm tốt hơn. Họng kèn này được gọi là HDI (High Definition Imaging). Từ các trải nghiệm, ta có thể hiểu rằng họng kèn được thiết kế để mở rộng phạm vi tỏa âm cả chiều dọc lẫn chiều ngang, từ đó góp phần tạo nên âm hình tốt hơn.
Dưới driver này là driver midwoofer đường kính 20.32cm với màng nón làm bằng vật liệu polycellulose với màu trắng quen thuộc. Nhìn chung, đây là loại vật liệu khá lý tưởng vì có khối lượng nhẹ nhưng độ dai, chắc rất cao, đồng thời có khả năng giảm chấn tốt, từ đó có thể tạo nên các dải trung, trầm chất lượng. Đồng thời, do có chi phí khá rẻ và dễ sản xuất nên driver này rất phù hợp với những mẫu loa sơ nhập như dòng Stage.
Theo công bố của JBL, cặp loa có đáp tuyến tần số nằm trong khoảng từ 55Hz đến 40kHz, cắt tần tại các dải 3.2kHz. Việc cắt tần ở một tần số cao như vậy cho thấy driver midwoofer có thể tái hiện cả những dải cao quãng thấp, từ đó đẩy tần số cắt vượt khỏi phạm vi tai người nhạy cảm nhất. Do đó, âm thanh của tweeter và midwoofer sẽ trở nên hài hòa, tạo cảm giác hoạt động mượt mà, dễ nghe khi chuyển từ driver này sang driver khác.
JBL Stage A130 có độ nhạy là 86dB và có thể lên. Nhìn chung, đây vốn là một cặp loa khá nhỏ nên ngay từ ban đầu, hãng sản xuất đã có ý định sử dụng nó cho những phòng nghe cỡ vừa hoặc nhỏ. Với độ nhạy 6 Ohm, loa có thể phối ghép với những thiết bị có công suất đầu ra từ 20 watt đến 125 watt. Mức công suất đa dạng như vậy cho thấy JBL Stage A130 có thể phối ghép với rất hầu hết các mẫu ampli hay AV receiver nào trong cùng phân khúc phổ thông.
A130 là một cặp loa đúng nghĩa JBL, vì thế chất âm của nó không hề nhẹ nhàng yếu đuối chút nào. Ngay cả khi nghe với mức âm lượng khá cao, cặp loa vẫn xử lý một cách rất nhẹ nhàng, không hề bị áp lực. Tất nhiên, những gì mà A130 thể hiện dù rất ấn tượng đối với một cặp loa nhỏ nhưng vẫn chưa thể đạt được tiêu chuẩn của một cặp loa sàn đứng như A170. Cặp loa lớn không chỉ sở hữu âm thanh to hơn, với chất bass đầy đặn hơn, có lực hơn mà ngay cả độ động cũng được tái hiện tốt hơn.
Về mặt âm trường, A130 có thể chỉ dừng lại ở mức trung bình, nhưng trọng tâm của âm hình thì lại được thể hiện rất tốt khi người nghe có thể hình dung một cách khá rõ rệt vị trí của từng nhạc cụ hay ca sĩ trong bản nhạc. Đồng thời, đây cũng là một cặp loa phụ thuộc khá nhiều vào đồ phối ghép cùng. Khi chuyển từ ampli tích hợp NAD C 316BEEV2 sang Emotiva PT-100 và Emotiva BasX A-150, có thể thấy chất lượng trình diễn được cải thiện rõ rệt.
Kết luận
JBL Stage A-130 là một cặp loa đúng nghĩa dành cho hi-fi bình dân, khi mà chỉ với một số tiền nhỏ, người dùng đã có thể sở hữu cho mình một cặp loa với chất âm dễ được chấp nhận, dễ phối ghép ampli. Mặc dù ở trên thị trường có không ít những cặp loa xuất sắc hơn, Stage A-130 vẫn có thể tìm được khách hàng của riêng mình – những người tin rằng hi-fi không cần phải quá đắt đỏ và những người vốn là fan trung thành của JBL.
Nguyễn Hào
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây
Fischer & Fischer–Khi khoa học kết hợp tự nhiên tạo ra những thùng loa tuyệt hảo