Manger Sound Transducer – “Trái tim” của Manger Audio (phần 2)

Trong phần này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu tiếp về thiết kế các chi tiết của Manger Sound Transducer – một driver độc quyền dành riêng cho loa của Manger Audio.

Hệ thống nam châm

nam cham

Có thể thấy hiếm có hệ thống nam châm nào mạnh bằng hệ thống nam châm dùng cho Manger Sound Transducer. Ít nhất 15 neodymium được sử dụng, tạo thành từ trường mạnh khoảng 1.32 Tesla trong một khe hẹp, chiều rộng chỉ 0.95mm. Hệ thống nam châm này dùng để truyền động cho cuộn voice coil kép 70mm, cung cấp lực đánh cho màng loa và chịu trách nhiệm tạo ra các âm thanh cực nhanh, với độ nhạy tương đối cao: 91 dB/1W/1m.

Màng loa

mang loa manger

Không cứng chắc như những màng loa có chuyển động dạng piston thông thường, màng loa của Manger Sound Transducer lại rất linh hoạt, thể hiện trở kháng không phụ thuộc tần số đối với lực truyền động. Hay nói cách khác, nó hoạt động giống như một điện trở Ohm trong mạch điện. Không có lực dẫn hay lực trễ nào được lưu lại trên màng loa này, tức là chẳng có năng lực tiềm năng hay động năng nào xuất hiện. Các lực được tích tụ lại này còn là nguyên nhân chính gây ra một dạng nhiễu ồn gọi là lỗi tín hiệu tức thời vốn thường xuất hiện trên các driver thông thường, kể cả màng nón hay màng vòm.

Những người phát minh ra loa điện động, Rice và Kellogg, từng viết như thế này từ cách đây hơn 90 năm: “Màng loa với độ kháng lý tưởng, ngược với loại lò xo-khối là loại duy nhất mà lực điện động mở rộng tỉ lệ thuận với tốc độ màng loa mong muốn”. Những mô tả đó không phải ngẫu nhiên mà trùng hợp với màng loa của Manger Sound Transducer.

can canh mang loa

Khi tiến sĩ. Manfred Heckl, Trưởng khoa Kỹ thuật Âm học tại Đại học Kỹ thuật Berlin được nhờ kiểm tra lý thuyết của Manger Sound Transducer, ban đầu ông đã bày tỏ sự nghi ngờ trước nguyên lý tán phát âm thanh sử dụng một tấm màng linh hoạt thay vì một màng loa cứng chắc. Trong suốt cuộc đời mình, Manfred Heckl thậm chí còn là một nhà khoa học có uy tín và nổi tiếng quốc tế trong lĩnh vực âm học / âm thanh sinh ra từ cấu trúc. Cuốn sách Structure Borne Sound của ông là một tài liệu tiêu chuẩn về lĩnh vực vậy lý âm thanh mà bất cứ ai trong lĩnh vực này cũng biết đến. Trong thư gửi cho Josef Manger năm 1978, tiến sĩ Heckl đã viết như sau:

“Gửi ngài Manger

Để yên tâm hơn một chút, tôi đã kiểm tra lại loa của ngài về mặt lý thuyết vào cuối tuần trước. Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy rằng nguyên lý tán phát do ngài lựa chọn cho kết quả thời gian tán phát tương ứng với thời gian của dòng điện (ít nhất là trong điều kiện lý tưởng mà tôi đã xem xét); tức là dao động tức thời và các hiệu ứng nhiễu khác không xảy ra. Nếu tôi diễn giải đúng các phương trình, có vẻ như một tấm màng có độ cứng giảm dần về phía rìa ngoài (độ dày thay đổi), sẽ cải thiện được hiệu quả tán phát được đôi chút…”

Các ưu điểm

Kể từ năm 1978 đến nay, Manger Sound Transducer trên lý thuyết đã đạt đến đỉnh cao, sẵn sàng bước vào thế giới audio high-end với một ứng dụng rất thực tế: làm loa. Đối với những người yêu thích âm thanh, những ưu điểm mà driver này mang đến thật rõ rệt, từ khả năng đáp ứng xung mà không có bất cứ lỗi tức thời nào, tín hiệu vào được chuyển trực tiếp thành âm thanh; tiếng người, tiếng nhạc cụ có độ chính xác cao. Quan trọng hơn cả là khả năng đưa đến cảm nhận về không gian, vị trí của từng nhạc cụ trong âm trường.

Không còn sự xuất hiện của nhiễu tức thời, Manger Sound Transducer không còn để lộ vị trí dễ dàng giống như những driver loa thông thường nữa. Cho dù nghe ở không gian bình thường hay trong một phòng thu âm chuyên nghiệp, việc nghe nhạc hàng tiếng đồng hồ sẽ không còn gây ra cảm giác mệt mỏi, khó chịu nữa. Bên cạnh đó, driver này cũng giúp cặp loa thoát ly hoàn toàn khỏi khái niệm “điểm ngọt”. Giờ đây, dù ngồi ở vị trí nào, người nghe vẫn có thể cảm nhận được âm hình một cách hoàn chỉnh. Với khả năng tỏa âm đáng kinh ngạc. Nhiều người có thể cùng nghe nhạc mà vẫn cảm nhận được chất lượng âm hình tốt cũng như sự cân bằng hoàn hảo

Thông số kỹ thuật của Manger Sound Transducer:

⋅ Đáp tuyến tần số: 80 Hz – 40 kHz

⋅ Thời gian phản ứng: 13 µs

⋅ Độ nhạy 1W/1m: 91 dB

⋅ Âm lượng tối đa liên tục/tức thời: 110 dB / 116 dB

⋅ Công suất khuyến nghị: 10 W – 400 W

⋅ Trở kháng: 4 Ohm / 8 Ohm

⋅ Kháng điện một chiều: 4,2 Ohm / 7,1 Ohm

⋅ Tần số cộng hưởng tự do: 88 Hz

⋅ Điện cảm cuộn voice coil: 27 µH

⋅ Năng lượng khe từ: 560 mWs

⋅ Thể tích khe từ: 1043 mm3

⋅ Chiều cao khe từ: 5 mm

⋅ Chiều rộng khe từ: 0,95 mm

⋅ Đường kính voice coil: 70 mm

⋅ Khoảng hành trình tối đa: ±3,5 mm

⋅ Kích thước: ø 210 mm x 22 mm

⋅ Khối lượng: 1,2 kilograms

⋅ Được làm thủ công tại Đức

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây 

Manger Sound Transducer – “Trái tim” của Manger Audio (phần 1)

Nguyễn Hào

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Các loại tai nghe thường gặp trên thị trường hiện nay