Preamp cao cấp Boulder 2110

Những kết nối, chức năng mà Boulder 2110 cung cấp có thể tìm thấy ở bất cứ preamp hay AV Receiver nào có giá hơn 600 đô la. Tuy nhiên, không một thiết bị nào ở tầm giá ấy có thể đánh bại được Boulder về mặt chất âm hay chất lượng hoàn thiện.

Boulder Amplifiers, một thương hiệu được thành lập từ năm 1984 thường rất im hơi lặng tiếng về các hoạt động của mình, không mấy khi thu hút sự chú ý bằng các chiến dịch marketing rầm rộ. Đối với họ, chất lượng sản phẩm mới là yếu tố quan trọng hàng đầu. Với những hãng âm thanh như vậy, sự thay đổi thường diễn ra rất chậm bởi vòng đời của sản phẩm thường rất dài. Preamp Boulder 2110 chính là một trường hợp như vậy. Thiết bị này chính thức bước ra thị trường vào năm 2015, thay thế cho preamp 2010 với vòng đời lên đến 17 năm.

Nếu chỉ nhìn từ ngoài, ngoại trừ màn hình thủy tinh bóng như gương, preamp 2110 không khác nhiều so với 2010, dù rằng có khá nhiều thay đổi xuất hiện cả ở bên trong lẫn bên ngoài. Và mức giá cũng tăng từ 48 nghìn đô la lên 54 nghìn đô la.

Boulder 2110

Thiết kế ngoại thất của 2110 nhìn chung giống với 2010. 2110 sở hữu thiết kế module với thân máy chính tách ra làm ba phần, gồm module điều khiển ở đáy nối liền với phần mặt trước. Phía trên là hai khoang lớn chứa module cho hai kênh trái/phải. Bên cạnh thân máy chính là bộ nguồn ngoài 2100, với bốn mạch nguồn riêng, được cách ly hoàn toàn. Hai mạch cung cấp nguồn cho hai kênh âm thanh analog, một mạch cấp nguồn cho mạch logic và giao diện người điều khiển trong khi mạch còn lại làm nhiệm vụ bật máy và chuyển chế độ standby, nhờ vậy mà tiêu thụ năng lượng giảm đi đáng kể khi preamp không được sử dụng.

Phần thân máy được làm bằng nhôm khá lớn, gia công từ một khối nhôm nguyên, bề mặt được phun bi để đánh nhẵn và sơn anode hóa. Phần nhãn hiệu ở mặt sau được khắc trực tiếp thay vì in lụa. Toàn bộ công đoạn sản xuất thân máy này được thực hiện CnC với độ chính xác rất cao ở nhà máy của họ. Ngay cả công đoạn phun bị đánh nhẵn cũng do Boulder thực hiện trong khi quá trình sơn anode hóa được giao cho một nhà thầu khác làm.

Để giữ nhiễu ồn ở mức cực thấp, không có bất cứ kết nối điện tử nào giữa các kênh âm thanh với phần giao diện điều khiển. Toàn bộ quá trình điều khiển trên hệ thống được thực hiện thông qua cảm ứng và bộ phát quang học dùng để kích hoạt chức năng ở mỗi khoang chứa module kênh.

Các chức năng và khả năng thiết lập, tùy chỉnh

Chính giữa mặt trước của preamp 2110 là một núm xoay không giới hạn để điều chỉnh âm lượng. Phía bên phải nó là các nút Balance, Mute, L(eft) và R(ight) Polarity, Display, Program, và nút bật/tắt máy. Cũng giống như ở preamp 2010, các cổng đầu vào có thể được lập trình, thay đổi và lựa chọn thông qua dãy nút bấm làm bằng thép không rỉ ở bên trái màn hình, đánh số từ 1 đến 6. Người dùng có thể thiết lập để dẫn tín hiệu từ cổng đầu vào bất kỳ sang cổng aux output, cũng như thiết lập bất cứ cổng đầu vào nào thành cổng tape monitor. Để chống hồi tiếp, 2110 cũng có thể được thiết lập để ngăn không cho bất cứ cổng đầu vào được chọn nào gửi tín hiều về cổng aux output. Chức năng tape monitor nhìn chung khá phức tạp, và ngay cả sách hướng dẫn của Boulder cũng không thực sự dễ hiểu cho lắm.

Bất cứ cổng đầu vào nào cũng có thể thiết lập để hoạt động ở chế độ Theater Mode, từ đó bypass mạch chỉnh âm lượng và điều chỉnh cân bằng hai kênh để giữ mức độ lợi đồng nhất từ cổng đầu vào đến cổng aux output. Đây là một chức năng hữu ích cho những ai kết hợp hệ thống xem phim đa kênh với hệ thống nghe nhạc stereo làm một. Boulder cũng cảnh báo rất kỹ rằng khi sử dụng ở chế độ Theater Mode, việc chỉnh âm lượng trên 2110 sẽ không thể làm được. Nhưng trên thực tế, chỉ duy nhất cổng đầu vào ở chế độ này không chỉnh được mà thôi.

Ngoài ra, 2110 cũng cho phép người dùng đảo phân cực ở từng kênh hoặc cả hai kênh, chỉnh mức độ mute để cắt giảm âm lượng thay vì tắt tiếng hoàn toàn, chỉnh độ sáng màn hình, thay đổi phạm vi kiểm soát âm lượng (từ -100dB đến 0dB). Người dùng thậm chí có thể đổi phân cực ở cổng Main Out và Aux output tùy vào lựa chọn power-amp và thiết bị thu âm. Nhìn chung, khả năng thiết lập, tùy chỉnh của 2110 rất hợp lý đối với một preamp có giá 54 nghìn đô la.

Kết nối

Tất cả các cổng kết nối của preamp 2110 đều là cổng balanced XLR. Các thiết bị single-ended có thể kết nối với preamp thông qua các adapter RCA sang XLR. Tất nhiên, để tận dụng được thế mạnh cân bằng toàn phần (fully balanced) của 2110, các thiết bị nguồn phát và power-amp phối ghép cùng cũng nên sở hữu thiết kế cân bằng vi sai, Bộ ba cổng đầu ra XLR của 2110 có thể sử dụng splitter đặc biệt để phối ghép với sáu power-amp.

Boulder 2110 sau

Mạch nguồn và các yếu tố khác

Cơ sở làm nên preamp 2110 chính là mạch nguồn khổng lồ dành cho mỗi kênh âm thanh. Các mạch nguồn này sử dụng những biến áp xuyến khổng lồ, sản xuất tại Mỹ, được đặt trong khoang riêng làm bằng thép chống nhiễm từ, hàn lại bằng thủy tinh khoáng và keo epoxy. Mỗi biến áp này có thể nặng tới 3.6kg. Ngay cả mạch logic cũng được thiết kế nguồn cấp riêng chứ không chung nguồn với mạch audio.

Để hoàn thiện toàn bộ cỗ máy với 4 khoang kim loại, Boulder đã phải chú trọng nhiều vào vấn đề giảm chấn nhằm loại bỏ tác động của cộng hưởng. Họ đã kết hợp nhiều loại vật liệu giảm chấn với nhau, và trên thực tế, cộng hưởng rung của toàn khối cấu trúc không chỉ cao hơn của từng khoang riêng mà còn nằm ở ngoài phạm vi có thể nghe được.

Việc lựa chọn cổng đầu vào của 2110 được kiểm soát qua mạch logic, với tín hiệu được dẫn tới 6 module độ lợi 993S thông qua rơ-le. Transistor của mạch đầu vào đều là transistor bipolar nhằm giữ cho méo tín hiệu thấp hơn, đồng thời có độ bền cao hơn so với sò FET. Với thiết kế đấu nối trực tiếp, 2110 sử dụng cả những servo có khả năng loại bỏ điện áp DC offset từ nguồn lên đến 50mV.

Boulder 2110 trong

Các module độ lợi 993S đều có cường độ dòng điện cao, điên áp tăng thế cao, dòng đầu ra cao trong khi trở kháng đầu ra thấp và băng thông rất rộng. Mỗi kênh sử dụng ba module âm và ba module dương, được lắp ráp và sắp xếp bằng máy, mỗi mạch có thể cung cấp độ lợi lên tới 20dB. Trước khi lắp đặt, các bảng đều được kiểm tra nhiều lần thông qua một chu trình thực hiện bằng máy tính, đánh giá tận 10 nghìn cách phối ghép giá trị điện trở khác nhau để xếp các module 993S vào những thiết lập phù hợp.

Ở thời đại của thiết kế không hồi tiếp âm, Boulder có phần hơi đi ngược lại khi áp dụng cái được gọi là “mức hồi tiếp âm chuẩn” để tạo ra các thông số hoạt động lý tưởng. Boulder cho biết hồi tiếp âm sở dĩ bị đánh giá xấu vì từng có thời op-amp hoạt động trong các thiết bị âm thanh làm việc quá chậm. Tuy nhiên, loại bỏ hoàn toàn hồi tiếp sẽ khiến chất âm bị ảnh hưởng xấu, đồng thời tăng độ méo tín hiệu lên rõ rệt.

Kết luận

Khi một chiếc preamp có mức giá ngang ngửa với ô tô, người mua chắc chắn sẽ muốn rằng chiếc preamp đó có thể đáp ứng được yêu cầu về chất lượng cao, giao diện dễ sử dụng, và chất âm không một chút thiên lệch. Boulder 2110 không chỉ đem đến tất cả những điều đó mà còn hơn thế nữa. Chất lượng hoàn thiện, thiết kế của chiếc preamp này, cũng như bất cứ thiết bị nào của Boulder từ trước đến nay không có điểm nào để phàn nàn. Còn về chất âm, 2110 không để lại bất cứ dấu ấn riêng nào. Nó khiến cho bản thu trở nên trung thực hoàn toàn, đến mức nếu người nghe có thể nghe thấy bất cứ dấu hiệu nào bất thường, chỉ có hai khả năng duy nhất: hoặc vấn đề đến từ hệ thống phối ghép cùng, hoặc bản thân bản thu ấy vốn có vấn đề sẵn rồi.

Nguyễn Hào

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

A.C.T Monocoque Bí mật đằng sau thùng loa Wilson Benesch