P3.0 là cặp loa đầu bảng của dòng sơ nhập Precision do Wilson Benesch sản xuất. Đây cũng đồng thời là bằng chứng cho thấy ngay cả những cặp loa phân khúc thấp hơn cũng rất được hãng quan tâm.
Chúng ta biết đến Wilson Benesch với những cặp siêu loa cao cấp trong dòng Geometry, với thùng loa công nghệ cao làm từ sợi carbon cùng rất nhiều kỹ thuật hiện đại khác. Tuy nhiên, để tiếp cận với một bộ phận khách hàng thật rộng lớn, họ sẽ cần một dòng sản phẩm khác với giá thành phù hợp hơn và điều này có thể dẫn đến việc phải đánh đổi một chút về mặt công nghệ hay vật liệu sản xuất. Giải quyết được bài toán này chính là nhiệm vụ mà Wilson Benesch đã đặt ra trong một thời gian dài, và cuối cùng câu trả lời của họ đã xuất hiện vào giữa năm 2018. Tuy là dòng sơ cấp, Precision cho thấy rằng ngay cả những cặp loa phân khúc thấp cũng rất được hãng quan tâm về mặt chất lượng.

Giới thiệu về Wilson Benesch Precision P3.0
Precision P3.0 là cặp loa sàn đứng cuối cùng của dòng loa sơ nhập này, chính thức được bày bán từ đầu năm 2019. Cũng giống như những mẫu loa khác cùng dòng, P3.0 được áp dụng khá nhiều công nghệ từ dòng cao cấp Geometry và được thiết kế để đem đến chất lượng trình diễn tốt nhất trong tầm giá dễ tiếp cận hơn. Để làm được điều này, thùng loa làm từ sợi carbon công nghệ A.C.T monocoque không còn nữa, thay vào đó là sự kết hợp giữa hợp kim và gỗ, với các thanh khung giằng gia cố bên trong để đảm bộ độ cứng chắc của thùng loa. Cấu trúc của thùng cũng được thiết kế để đảm bảo giữa độ cứng chắc và khả năng giảm chấn tốt.
Phần đỉnh và phần đáy của loa, bên cạnh việc đảm bảo yếu tố thẩm mỹ, còn có đóng góp rất quan trọng trong thiết kế thùng loa tổng thể. Chúng được cắt CNC với độ chính xác rất cao từ những khối nhôm cỡ lớn, đóng vai trò cố định vách mặt trước và mặt sau cũng bằng nhôm và các vách cạnh bằng gỗ. Các trục nhôm dọc bên trong thùng vừa đóng vai trò cố định hình dáng, vừa là thanh gia cố cấu trúc để đảm bảo cho độ cứng chắc của thùng. Với kích thước các cạnh cụ thể 1255mm x 269mm x 472mm, chúng ta có thể coi P3.0 là một cặp loa cỡ nhỏ hoặc vừa. Tuy nhiên, khối lượng 59kg mỗi chiếc đã cho thấy lượng kim loại dùng trong thùng loa nhiều như thế nào. Bên cạnh đó, do cách phân chia khoang trong hợp lý, thể tích thực của thùng loa cũng lớn hơn hẳn so với những cặp loa có kích thước tương đương.
Chi tiết kỹ thuật
Cũng mang cấu trúc 2.5 đường tiếng nhưng Precision P3.0 không sở hữu nhiều driver như các loa trong dòng Geometry, và cũng ít phức tạp hơn hẳn. Loa được trang bị một driver tweeter Leonardo, ba driver Tactic II 170mm trong đó có một driver bass quãng cao ở ngay phía trên tweeter, một driver midrange ở phía dưới và dưới cùng là bass quãng thấp. Nếu nhìn đằng sau loa, mọi người sẽ nghĩ rằng P3.0 sử dụng hai cổng bass phản xạ, nhưng theo bản sơ đồ thì thực tế phải là ba, với cổng cuối cùng dành cho khoang loa bass quãng thấp hướng sàn. Thùng loa được chia thành ba khoang, trong đó driver bass quãng cao đặt cùng một khoang, midrange trong một khoang nhỏ hơn và khoang nhỏ nhất dành cho driver bass quãng cao. Việc kê chéo đáy vách khoang midrange cũng giúp mở rộng thể tích cho khoang loa dưới cùng một cách đáng kể.
Tweeter Leonardo là mẫu driver được thiết kế dành riêng cho dòng Precision. Không giống như “người anh em” Semisphere, Leonardo không sử dụng thiết kế vòm lụa kết hợp sợi carbon để mở rộng đáp tuyến tần số mà chỉ dùng vòm lụa mềm thông thường, do vậy đáp tuyến chỉ lên tối đa 24kHz. Tuy nhiên driver này vẫn được lắp trên tấm faceplate Fibonacci mượn từ cặp loa đầu bảng Eminence. Tấm faceplate này được làm hoàn toàn từ sợi carbon, bề mặt dạng cấu trúc mạng tinh thể tạo thành một ống dẫn sóng nông. Fibonacci có thể kiểm soát giao thoa giữa âm trực tiếp từ tweeter và âm phản hồi từ tấm faceplate. Nhờ vậy, đáp tuyến tần số sẽ trở nên cực kỳ phẳng. Theo Wilson Benesch, faceplate phẳng thông thường tạo ra quá nhiều đỉnh và đáy trên đáp tuyến tần số của khoảng âm do tweeter tạo ra. Vùng bề mặt Fibonacci được tạo ra nhờ vào công nghệ in 3D, do đó có độ chi tiết và chính xác cực kỳ cao so với công nghệ gia công thông thường. Cũng như tweeter Semisphere, Leonardoswr dụng vòng nam châm Neodymium ở khoang phía sau để đảm bảo nhiệt độ không quá cao nhưng từ lực vẫn đủ mạnh cho mọi hoạt động.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất khi thiết kế driver là lựa chọn vật liệu làm màng nón. Wilson Benesch là công ty đầu tiên trên thế giới phát triển và ứng dụng vật liệu isotactic polypropylene vào sản phẩm dân dụng. Sau hơn một thập kỷ, đây vẫn là lựa chọn cho mọi màng nón loa của họ. Nếu như polypropylene thông thường ở dạng một khối vật liệu đồng nhất thì isotactic propylene lại xuất hiện dưới dạng sợi dệt, có độ bền chắc cao hơn nhiều lần trong khi khối lượng vẫn rất nhẹ. Điểm độc đáo của loại vật liệu này chính là sự cân bằng giữa độ cứng chắc cực kỳ cao cũng như khả nặng tự giảm rung chấn rất tốt, điều mà polypropylene thông thường không thể nào có được.
Sự phức tạp của Precision P3.0 còn nằm ở thiết kế phân tần. Driver midrange đấu nối trực tiếp với cọc loa không có phân tần, đồng nghĩa với việc đây gần như là một driver toàn dải. Trong khi đó, tweeter sử dụng phân tần bậc hai còn hai driver bass sử dụng phân tần bậc một. Trên thị trường hiện nay, kiểu thiết kế này không phổ biến vì hầu hết các hãng đều nhập driver từ một bên thứ ba chuyên sản xuất mặt hàng này. Thiết kế của những driver này vốn là để hoạt động tốt cho các hệ thống phân tần nhiều đường tiếng, dễ roll-off các dải cao ngoài phạm vi cho phép. Vì thế chúng không thực sự hoạt động hiệu quả trong những cặp loa không dùng phân tần. Tuy nhiên, các kỹ sư Wilson Benesch đã tự thiết kế driver của mình để có thể xuất hiện roll-off dải cao ở đúng dải tần số yêu cầu mà không cần sử dụng phân tần. Phương pháp này có ưu điểm là không đặt bất cứ linh kiện nào như tụ điện, cuộn cảm hay điện trở lên đường tín hiệu, do đó tín hiệu mà driver nhận được là tín hiệu thuần hoàn toàn và có độ hiệu quả cao nhất. Nhược điểm duy nhất chỉ là voice coil sẽ bị nóng hơn rất nhiều do phải chịu toàn bộ dòng điện từ ampli đi vào, từ đó có thể dẫn đến hiện tượng nén độ động không mong muốn. Do vậy, chỉ có duy nhất driver midrange là sử dụng phương pháp này, trong khi hai driver bass còn lại vẫn sử dụng phân tần bậc một. Khi xét tới cuộn cảm lõi khí ở phân tần cho driver bass quãng cao, cuộn cảm lõi sắt ở driver bass quãng thấp, có thể thấy chất lượng của chúng cực kỳ tốt.
Precision P3.0 có độ nhạy là 89dB và trở kháng tối thiểu là 4 Ohm, do đó đây không phải là một cặp loa đòi hỏi công suất quá lớn. Tuy nhiên, người dùng vẫn nên sử dụng một ampli chất lượng tốt, có hệ số damping cao để kiểm soát cặp loa này và quan trọng hơn cả là phù hợp về mặt chất âm. Đáp tuyến tần số của loa tương đối mở rộng và bằng phẳng: 31Hz–24kHz ±2dB.
Kết luận
Wilson Benesch Precision P3.0 sẽ khiến cho bất cứ ai khi nghe cũng phải ngạc nhiên vì những gì mà nó đem lại. Tuy mức giá không quá cao khi so sánh với những cặp loa trong dòng Geometry, P3.0 vẫn sở hữu nhiều đặc điểm công nghệ từng được áp dụng ở các cặp loa cao cấp hơn, cho thấy Wilson Benesch thực sự nghiêm túc khi phát triển dòng Precision. Ở dòng loa này, việc lựa chọn ampli cũng dễ dàng hơn so với Geometry khi mà các ampli cùng tầm giá như Hegel hay Audia Flight vẫn có thể phối ghép cùng và đem lại rất khả quan.
Nguyễn Hào
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây